Trong quá trình triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên luôn xác định cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý đất đai, đẩy mạnh chuyển đổi số và đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp là những nhiệm vụ trọng tâm của ngành. Qua đó, từng bước tạo lập môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh minh bạch, thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ và phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Chuyển từ tư duy “quản lý” sang “đồng hành, phục vụ” doanh nghiệp
Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức quản lý nhà nước, trong đó kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Nhận thức rõ tinh thần đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao thông qua hệ thống kế hoạch, chương trình triển khai của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Thái Nguyên.
Ngay trong nội bộ ngành, Sở đã tổ chức tuyên truyền, quán triệt yêu cầu đổi mới tư duy hành chính từ kiểm soát sang đồng hành, coi doanh nghiệp là đối tượng phục vụ thay vì đối tượng quản lý; đồng thời đề cao nguyên tắc “nói đi đôi với làm”, hạn chế tối đa việc vận dụng cơ chế hành chính theo hướng xin - cho, bảo đảm công khai, minh bạch trong thực thi chính sách.
Đây không chỉ là sự thay đổi về phương thức điều hành mà còn là yêu cầu đặt ra đối với từng cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ: lấy hiệu quả giải quyết công việc, mức độ thuận lợi của người dân và doanh nghiệp làm một trong những thước đo chất lượng phục vụ.
Cải cách thủ tục hành chính, lấy chuyển đổi số làm công cụ hỗ trợ doanh nghiệp
Một trong những đóng góp trực tiếp của ngành Nông nghiệp và Môi trường đối với phát triển kinh tế tư nhân là cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai - lĩnh vực có tác động lớn đến quyết định đầu tư và tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Hiện Sở thực hiện quản lý 335 thủ tục hành chính, trong đó 266 thủ tục cấp tỉnh và 69 thủ tục cấp xã. Đáng chú ý, 100% thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở đã được cung cấp dịch vụ công trực tuyến và được tiếp nhận không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
Sở cũng đã chủ động rà soát, đề xuất đơn giản hóa thủ tục hành chính; trong đó tham mưu phương án bãi bỏ 03 thủ tục hành chính đặc thù không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đề nghị đơn giản hóa 11 thủ tục hành chính nội bộ giữa các cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý.
Đặc biệt, trong lĩnh vực đất đai, Sở đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 82/2026/QĐ-UBND ngày 30/6/2026 về quy trình, thủ tục hành chính đất đai trên địa bàn tỉnh. Theo đó, thời gian giải quyết thủ tục thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cắt giảm 33,3%, từ 15 ngày xuống còn 10 ngày.
Đây là một bước tiến có ý nghĩa thực tiễn đối với doanh nghiệp, bởi rút ngắn thời gian xử lý thủ tục đồng nghĩa với giảm thời gian chờ đợi, giảm chi phí tuân thủ và góp phần đưa dự án vào triển khai sớm hơn.
Đất đai - từ “điểm nghẽn” thành nguồn lực cho phát triển
Đối với khu vực kinh tế tư nhân, khả năng tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì vậy, Sở Nông nghiệp và Môi trường xác định nâng cao chất lượng quản lý đất đai, minh bạch hóa thông tin và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai là những nhiệm vụ nền tảng để cải thiện môi trường đầu tư.
Đến nay, tỉnh Thái Nguyên đã hoàn thành đo đạc lập bản đồ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đối với 92/92 xã, phường, với tổng diện tích đã đo vẽ 837.453 ha, tương ứng 100% diện tích tự nhiên; cơ sở dữ liệu được xây dựng cho hơn 4,3 triệu thửa đất.
Trong quá trình hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai theo Kế hoạch số 133/KH-UBND ngày 02/4/2026 của UBND tỉnh, đã có hơn 2,31 triệu thửa đất đạt Nhóm 1 theo tiêu chí mới; dữ liệu đất đai đã được đồng bộ lên Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai VNLIS tại 75/92 xã, phường, với hơn 1,53 triệu thửa đất đạt Nhóm 1, xếp thứ 2 toàn quốc tại thời điểm báo cáo.
Việc hình thành cơ sở dữ liệu đất đai ngày càng đầy đủ, chính xác và được kết nối, chia sẻ không chỉ phục vụ công tác quản lý nhà nước mà còn tạo nền tảng để doanh nghiệp tiếp cận thông tin đất đai thuận lợi hơn, tăng tính minh bạch của thị trường và giảm rủi ro trong quá trình chuẩn bị, triển khai dự án.
Tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, giải phóng mặt bằng và chi phí đầu tư
Trong năm 2026, Sở đã tham mưu UBND tỉnh, trình HĐND tỉnh thông qua và điều chỉnh, bổ sung danh mục 119 công trình, dự án phải thu hồi đất trên địa bàn tỉnh. Đây là một trong những nhiệm vụ có tác động trực tiếp tới tiến độ chuẩn bị mặt bằng và triển khai các dự án đầu tư.
Cùng với đó, Sở đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 15/2026/QĐ-UBND ngày 27/3/2026 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Quy định này góp phần hoàn thiện cơ chế giải phóng mặt bằng, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, tạo đồng thuận trong quá trình thu hồi đất và qua đó hỗ trợ đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án.
Đồng thời, việc tham mưu ban hành hệ số điều chỉnh giá đất năm 2026 và sửa đổi, bổ sung bảng giá đất góp phần tạo cơ sở pháp lý thống nhất trong xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, chi phí tiếp cận đất đai của tổ chức, doanh nghiệp, hạn chế những vướng mắc do áp dụng giá đất không đồng bộ.
Cơ chế “Luồng xanh” - rút ngắn thời gian, tăng tốc độ triển khai dự án
Một điểm nhấn trong thực hiện Nghị quyết 68 là việc Sở triển khai 05 thủ tục hành chính theo cơ chế “Luồng xanh 60%” thuộc chức năng giải quyết của Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Cơ chế này hướng tới rút ngắn tối đa thời gian xử lý hồ sơ đối với các dự án trọng điểm, đồng thời kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về pháp lý cho nhà đầu tư.
Cùng với đó, 49 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, gồm 31 thủ tục cấp tỉnh và 18 thủ tục cấp xã, đã được cung cấp dịch vụ công trực tuyến; 100% thủ tục đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình và được tiếp nhận, giải quyết, trả kết quả trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Các thủ tục có phí, lệ phí được thực hiện thanh toán điện tử, góp phần giảm thời gian, chi phí và tăng tính minh bạch.
Chủ động phòng ngừa rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp
Tinh thần đồng hành cùng doanh nghiệp không chỉ thể hiện ở việc giải quyết hồ sơ nhanh hơn mà còn ở việc chủ động hướng dẫn, cảnh báo và phòng ngừa vi phạm.
Sở đã chỉ đạo Trung tâm Khuyến nông thường xuyên cập nhật, đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật, quy định mới, quy trình thủ tục hành chính và hướng dẫn chuyên ngành trên Trang thông tin điện tử của Sở, giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh chủ động nắm bắt và thực hiện đúng quy định.
Nội dung tuyên truyền, cảnh báo tập trung vào những lĩnh vực doanh nghiệp thường xuyên phải tuân thủ như bảo vệ môi trường, hồ sơ cấp phép môi trường, quản lý chất thải, sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, bảo vệ rừng, vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản, tài nguyên nước...
Cách tiếp cận này đang từng bước chuyển từ phương thức “phát hiện - xử lý vi phạm” sang “hướng dẫn - phòng ngừa - hỗ trợ tuân thủ”, qua đó giảm rủi ro pháp lý và tạo môi trường kinh doanh ổn định hơn cho doanh nghiệp.
Đồng hành cùng doanh nghiệp phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Trong lĩnh vực nông nghiệp, Sở xác định doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức sản xuất có vai trò quan trọng trong tổ chức lại sản xuất, hình thành chuỗi liên kết và nâng cao giá trị nông sản.
Mặc dù Sở không thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với hệ thống kinh tế tư nhân, đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp và hợp tác xã trên địa bàn tỉnh, nhưng trong phạm vi chức năng được giao, Sở thường xuyên phối hợp với các sở, ngành, địa phương và tổ chức liên quan để hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất, kinh doanh tham gia phát triển kinh tế - xã hội.
Trọng tâm là hỗ trợ phát triển sản xuất, xây dựng chuỗi liên kết trong nông nghiệp, phát triển sản phẩm OCOP, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp và hợp tác xã phát huy vai trò nòng cốt trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn.
Định hướng này được đặt trong tổng thể Đề án số 20-ĐA/TU ngày 11/12/2025 về phát triển toàn diện nông thôn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026-2030, với mục tiêu khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tỉnh, phát triển nông nghiệp theo hướng an toàn, hữu cơ, đẩy mạnh khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hình thành các vùng sản xuất sản phẩm nông nghiệp chủ lực quy mô lớn.
Từ kết quả bước đầu đến yêu cầu tiếp tục tạo động lực mới
Những kết quả đạt được cho thấy vai trò của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên trong thực hiện Nghị quyết 68 không nằm ở việc trực tiếp “phát triển kinh tế tư nhân”, mà quan trọng hơn là tạo dựng và cải thiện những điều kiện thể chế, đất đai, thủ tục hành chính, dữ liệu, môi trường pháp lý và không gian sản xuất để khu vực tư nhân phát triển.
Trong những tháng cuối năm 2026, Sở xác định tiếp tục thực hiện đầy đủ, kịp thời các nhiệm vụ được giao; đẩy mạnh cải cách hành chính, rà soát, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục; duy trì giải quyết thủ tục trên môi trường điện tử, không phụ thuộc địa giới hành chính; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến; tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai và duy trì hiệu quả cơ chế “Luồng xanh 60%”.
Đồng thời, Sở tiếp tục rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý, kịp thời phát hiện và đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc xử lý những quy định không còn phù hợp, chồng chéo, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh.
Với cách tiếp cận lấy doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, lấy cải cách thể chế và chuyển đổi số làm công cụ, lấy đất đai và các nguồn lực sản xuất làm nền tảng, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên đang từng bước chuyển hóa chức năng quản lý nhà nước thành động lực hỗ trợ phát triển. Đây chính là một trong những đóng góp thiết thực của ngành vào việc hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, góp phần xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh ngày càng minh bạch, thuận lợi, an toàn và bình đẳng; qua đó khơi thông nguồn lực, củng cố niềm tin và tạo thêm dư địa để kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn mới./.