Điều chỉnh cơ chế phân phối lợi nhuận, quản lý quỹ và giám sát tài chính tại các tổ chức tín dụng
Ban biên tập
2026-10-07T00:55:30-04:00
2026-10-07T00:55:30-04:00
https://www.hotropldn.thainguyen.gov.vn/news/tieu-diem-phap-luat/dieu-chinh-co-che-phan-phoi-loi-nhuan-quan-ly-quy-va-giam-sat-tai-chinh-tai-cac-to-chuc-tin-dung-2364.html
/themes/netegov/images/no_image.gif
Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Cổng thông tin điện tử hỗ trợ pháp lý cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa
https://www.hotropldn.thainguyen.gov.vn/uploads/botuphap.png
Ngày 11/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 316/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 135/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và tổ chức tín dụng có vốn nhà nước. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026.
Nghị định 316/2026/NĐ-CP tập trung điều chỉnh nhiều nội dung quan trọng về phân phối lợi nhuận sau thuế, trích lập và sử dụng các quỹ, lập kế hoạch tài chính, đánh giá và xếp loại tổ chức tín dụng có vốn nhà nước, đồng thời làm rõ trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính trong công tác giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động.
1. Điều chỉnh nguyên tắc phân phối lợi nhuận và trích lập các quỹ
Một trong những nội dung đáng chú ý là việc sửa đổi cơ chế phân phối phần lợi nhuận còn lại của tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và tổ chức tín dụng có vốn nhà nước.
Theo đó, sau khi trừ các khoản theo quy định, tổ chức tín dụng thực hiện trích 10% vào quỹ dự phòng tài chính, với mức tối đa của quỹ không vượt quá 25% vốn điều lệ. Đồng thời, tổ chức tín dụng được trích không quá 40% vào quỹ đầu tư phát triển, nhưng phải bảo đảm tổng mức trích vào quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ đầu tư phát triển không quá 50% theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Mức tối đa của quỹ đầu tư phát triển không vượt quá vốn điều lệ của tổ chức tín dụng.
Đáng chú ý, mức trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi được gắn với kết quả xếp loại tổ chức tín dụng. Cụ thể, tổ chức tín dụng xếp loại A được trích không quá 3 tháng lương thực hiện cho hai quỹ; loại B không quá 2 tháng; loại C không quá 1 tháng. Tổ chức tín dụng không thực hiện xếp loại thì không được trích lập hai quỹ này.
Trường hợp lợi nhuận còn lại sau khi trích quỹ đầu tư phát triển không đủ nguồn để trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi theo mức quy định, tổ chức tín dụng được giảm phần lợi nhuận trích quỹ đầu tư phát triển để bổ sung nguồn, nhưng mức giảm tối đa không quá số tiền đã trích vào quỹ đầu tư phát triển trong năm tài chính.
2. Siết điều kiện chia cổ tức bằng cổ phiếu
Đối với tổ chức tín dụng có vốn nhà nước trên 50% đến dưới 100% vốn điều lệ, Nghị định bổ sung điều kiện đối với việc chia cổ tức bằng cổ phiếu.
Theo đó, trước khi trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải lấy ý kiến thống nhất với Bộ Tài chính. Tổ chức tín dụng được áp dụng hình thức chia cổ tức bằng cổ phiếu khi đáp ứng đồng thời các tiêu chí về hiệu quả hoạt động và chất lượng tín dụng.
Cụ thể, tổ chức tín dụng phải có kết quả xếp loại từ loại B trở lên trong hai năm liền kề trước năm xác định chia cổ tức bằng cổ phiếu và có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%.
Quy định này góp phần gắn việc phân phối lợi ích cho cổ đông với hiệu quả hoạt động và mức độ an toàn của tổ chức tín dụng.
3. Làm rõ cơ chế phân phối lợi nhuận tại ngân hàng hợp tác xã và quỹ tín dụng nhân dân
Nghị định cũng điều chỉnh việc phân phối lợi nhuận đối với ngân hàng hợp tác xã và quỹ tín dụng nhân dân.
Đối với ngân hàng hợp tác xã, việc trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi được thực hiện theo nguyên tắc tương tự tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Trước khi tổ chức Đại hội thành viên, người đại diện phần vốn nhà nước tại ngân hàng phải xin ý kiến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc phân chia phần lợi nhuận còn lại.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm lấy ý kiến thống nhất với Bộ Tài chính trước khi chỉ đạo người đại diện phần vốn nhà nước biểu quyết tại Đại hội thành viên. Phần lợi nhuận chia cho thành viên là Nhà nước được sử dụng để bổ sung vốn điều lệ, thuộc phần vốn hỗ trợ của Nhà nước.
Trong khi đó, đối với quỹ tín dụng nhân dân, việc phân phối phần lợi nhuận còn lại được thực hiện theo Luật Hợp tác xã và Điều lệ của quỹ tín dụng nhân dân.
4. Quy định cụ thể hơn về quản lý và sử dụng các quỹ
Nghị định 316/2026/NĐ-CP sửa đổi toàn diện Điều 27 của Nghị định 135/2025/NĐ-CP, làm rõ mục đích sử dụng từng loại quỹ.
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn được cấp được sử dụng để bổ sung vốn điều lệ, vốn được cấp; quỹ dự phòng tài chính được sử dụng để bù đắp phần tổn thất, thiệt hại về tài sản còn lại sau khi đã sử dụng các nguồn bồi thường, bảo hiểm và dự phòng theo quy định.
Quỹ đầu tư phát triển được sử dụng cho các dự án đầu tư phát triển và bổ sung vốn điều lệ.
Đối với quỹ khen thưởng, Nghị định quy định các khoản thưởng cuối năm, thưởng thường kỳ, thưởng đột xuất, thưởng theo pháp luật về thi đua, khen thưởng; đồng thời cho phép thưởng đối với cá nhân, đơn vị ngoài tổ chức tín dụng có đóng góp cho hoạt động kinh doanh, công tác quản lý của tổ chức tín dụng.
Quỹ phúc lợi được sử dụng cho đầu tư, sửa chữa công trình phúc lợi; các hoạt động thể thao, văn hóa, phúc lợi công cộng; trợ cấp khó khăn thường xuyên, đột xuất cho người lao động và các hoạt động phúc lợi khác.
Đáng chú ý, tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải xây dựng, ban hành quy chế quản lý, sử dụng quỹ phù hợp với pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp; quy chế phải bảo đảm dân chủ, minh bạch, có sự tham gia của Ban Chấp hành Công đoàn và được công khai trong tổ chức tín dụng trước khi thực hiện.
5. Đổi mới quy trình lập kế hoạch tài chính và giao chỉ tiêu đánh giá
Nghị định quy định cụ thể hơn về thời hạn lập, rà soát kế hoạch tài chính đối với tổ chức tín dụng có vốn nhà nước.
Đối với tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, trước ngày 31/7 hằng năm, tổ chức tín dụng phải lập kế hoạch tài chính cho năm kế tiếp và gửi Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trước ngày 1/3 của năm kế hoạch, tổ chức tín dụng rà soát, hoàn chỉnh kế hoạch tài chính trên cơ sở kết quả kinh doanh của năm trước.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rà soát kế hoạch tài chính và có ý kiến chính thức bằng văn bản, đồng thời giao các chỉ tiêu đánh giá, xếp loại cho tổ chức tín dụng trước ngày 31/3 của năm kế hoạch.
Đối với tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 100% vốn điều lệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định các chỉ tiêu đánh giá cụ thể để giao nhiệm vụ cho người đại diện phần vốn nhà nước tại tổ chức tín dụng.
Các chỉ tiêu đánh giá được giao bằng văn bản và không được điều chỉnh trong suốt kỳ thực hiện kế hoạch, trừ trường hợp bất khả kháng.
6. Gắn kết quả chấp hành pháp luật với việc xếp loại tổ chức tín dụng
Nghị định 316/2026/NĐ-CP đồng thời sửa đổi tiêu chí về chấp hành pháp luật trong đánh giá, xếp loại tổ chức tín dụng.
Theo quy định mới, tiêu chí này bao gồm việc chấp hành pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, chế độ báo cáo tài chính và các báo cáo phục vụ giám sát tài chính.
Tổ chức tín dụng được xếp loại A khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chấp hành chế độ báo cáo và không bị xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng được liệt kê trong Nghị định.
Ngược lại, tổ chức tín dụng có thể bị xếp loại C nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đúng hạn nghĩa vụ báo cáo và bị nhắc nhở bằng văn bản trên 3 lần trong năm đối với từng loại báo cáo; bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với một số hành vi vi phạm nghiêm trọng trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng; bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hoặc người quản lý tổ chức tín dụng có hành vi vi phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực quy định.
Các tổ chức tín dụng còn lại được xếp loại B.
7. Bãi bỏ phụ lục về kế hoạch lao động, tiền lương
Một điểm thay đổi về thủ tục là Nghị định bãi bỏ Phụ lục III quy định về mẫu biểu lập kế hoạch lao động, tiền lương.
Đồng thời, Nghị định thay thế thuật ngữ liên quan đến pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước bằng thuật ngữ “pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp” tại một số điều của Nghị định 135/2025/NĐ-CP, bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.
8. Quy định chuyển tiếp và thời điểm có hiệu lực
Theo Điều 2 Nghị định 316/2026/NĐ-CP, đối với lợi nhuận của năm tài chính 2024 chưa được phân phối trước ngày Nghị định có hiệu lực, việc phân phối được thực hiện theo quy định mới tại Nghị định 316/2026/NĐ-CP.
Nghị định chính thức có hiệu lực từ ngày 01/10/2026. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành.
Nghị định 316/2026/NĐ-CP tạo ra những điều chỉnh đáng chú ý theo hướng gắn phân phối lợi nhuận và chế độ khen thưởng, phúc lợi với kết quả hoạt động và xếp loại tổ chức tín dụng; tăng yêu cầu về an toàn, chất lượng tín dụng khi chia cổ tức bằng cổ phiếu; đồng thời tăng tính chủ động, minh bạch trong quản lý và sử dụng các quỹ và công tác giám sát tài chính đối với tổ chức tín dụng có vốn nhà nước.
Tác giả bài viết: Ban biên tập