Phạm vi thông tin công dân được tiếp cận theo Luật Tiếp cận theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thứ tư - 19/08/2026 22:25 509 0
Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI, Kỳ họp thứ Nhất thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026. Tại Chương III, Mục 1 với tiêu đề “Phạm vi thông tin được tiếp cận”, Luật quy định cụ thể về thông tin công dân được tiếp cận, thông tin công dân không được tiếp cận và thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện. Đây là những quy định có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định rõ phạm vi thực hiện quyền tiếp cận thông tin, đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa quyền được biết của công dân với yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, quyền riêng tư, bí mật kinh doanh và các lợi ích hợp pháp khác.
Xác định rõ phạm vi thông tin công dân được tiếp cận
Quyền tiếp cận thông tin được pháp luật ghi nhận nhằm bảo đảm để công dân có điều kiện tiếp cận những thông tin cần thiết do cơ quan, đơn vị tạo ra hoặc nắm giữ. Theo Luật Tiếp cận thông tin, “thông tin” là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới nhiều hình thức như bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan, đơn vị tạo ra hoặc nắm giữ. Việc tiếp cận thông tin bao gồm đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp và tải về thông tin.
Trên cơ sở khái niệm và phạm vi đó, Điều 14 Luật Tiếp cận thông tin xác định nguyên tắc chung về phạm vi thông tin mà công dân được tiếp cận. Theo đó, công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan, đơn vị, trừ thông tin không được tiếp cận quy định tại Điều 15; đồng thời được tiếp cận có điều kiện đối với thông tin quy định tại Điều 16 của Luật.
Quy định tại Điều 14 cho thấy Luật xác lập quyền tiếp cận thông tin là nguyên tắc, trong khi việc không được tiếp cận hoặc chỉ được tiếp cận trong những điều kiện nhất định là những trường hợp được Luật quy định cụ thể. Theo cách tiếp cận này, khi xem xét một thông tin có thuộc phạm vi công dân được tiếp cận hay không, cần xác định thông tin đó thuộc một trong ba nhóm: thông tin công dân được tiếp cận; thông tin công dân không được tiếp cận; hoặc thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện. Việc phân định ba nhóm thông tin nêu trên là cơ sở để công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin đúng quy định, đồng thời giúp cơ quan, đơn vị có căn cứ xác định phạm vi thông tin có thể cung cấp.
Những thông tin công dân không được tiếp cận
Bên cạnh việc khẳng định quyền tiếp cận thông tin, Luật Tiếp cận thông tin cũng quy định những trường hợp thông tin công dân không được tiếp cận. Điều 15 của Luật xác định 06 nhóm thông tin không được tiếp cận, nhằm bảo vệ những lợi ích mà pháp luật quy định cần được bảo vệ.
Thông tin thuộc bí mật nhà nước
Nhóm đầu tiên là thông tin thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Đây là những thông tin mà việc tiếp cận phải được kiểm soát theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Tuy nhiên, Điều 15 cũng quy định rõ: khi thông tin thuộc bí mật nhà nước được giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin.
Như vậy, việc không được tiếp cận đối với thông tin thuộc bí mật nhà nước được xác định trên cơ sở tình trạng pháp lý của thông tin. Khi thông tin đã được giải mật thì không còn thuộc trường hợp không được tiếp cận quy định tại khoản 1 Điều 15 và việc tiếp cận được thực hiện theo quy định của Luật.
Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và dữ liệu cá nhân
Nhóm thứ hai là thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật dân sự và dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đối với nhóm thông tin này, Luật quy định công dân không được tiếp cận, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 16. Như vậy, đây là nhóm thông tin được pháp luật bảo vệ nhưng không phải trong mọi trường hợp đều bị hạn chế tuyệt đối; việc tiếp cận được xem xét theo cơ chế tiếp cận có điều kiện được quy định tại Điều 16.
Bí mật kinh doanh
Nhóm thứ ba là bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 16.
Quy định này nhằm bảo đảm bí mật kinh doanh của chủ sở hữu được bảo vệ, đồng thời xác định rõ trường hợp công dân có thể tiếp cận loại thông tin này khi đáp ứng điều kiện do Luật quy định.
Thông tin có thể gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước và các lợi ích hợp pháp khác
Nhóm thứ tư là thông tin mà nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc người khác.  Đối với nhóm thông tin này, Luật không chỉ xác định phạm vi thông tin không được tiếp cận mà còn quy định về cách thức xác định thông tin thuộc trường hợp này.
Theo đó, việc xác định thông tin được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Trường hợp pháp luật chưa quy định thì căn cứ vào điều kiện thực tế, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin. Quy định này đặt ra yêu cầu phải xem xét tính chất của thông tin và những tác động có thể xảy ra nếu thông tin được cung cấp, trên cơ sở quy định pháp luật có liên quan và điều kiện thực tế.
Thông tin thuộc bí mật công tác
Nhóm thứ năm là thông tin thuộc bí mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định của pháp luật.
Việc xác định thông tin thuộc bí mật công tác phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. Đây cũng là một trong những căn cứ để xác định thông tin không thuộc phạm vi công dân được tiếp cận theo Điều 15.
Thông tin về cuộc họp nội bộ và tài liệu phục vụ công việc nội bộ
Nhóm thứ sáu là thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan, đơn vị; tài liệu do cơ quan, đơn vị soạn thảo cho công việc nội bộ.  Như vậy, Điều 15 đã liệt kê cụ thể các nhóm thông tin công dân không được tiếp cận. Việc quy định thành từng nhóm giúp xác định rõ phạm vi hạn chế quyền tiếp cận thông tin, tránh việc áp dụng tùy tiện hoặc mở rộng phạm vi thông tin không được cung cấp ngoài những trường hợp Luật quy định.
Thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện
Bên cạnh nhóm thông tin không được tiếp cận, Luật Tiếp cận thông tin thiết lập một nhóm thông tin trung gian, đó là thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện.
Điều 16 quy định cụ thể bốn trường hợp thông tin được tiếp cận có điều kiện. Trước hết, đối với thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, công dân được tiếp cận trong trường hợp được người đó đồng ý. Đối với thông tin liên quan đến bí mật gia đình, điều kiện để tiếp cận là được các thành viên gia đình đồng ý. Riêng việc tiếp cận thông tin thuộc dữ liệu cá nhân được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Như vậy, đối với các thông tin gắn trực tiếp với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và dữ liệu cá nhân, Luật không xác định đây là những thông tin mà công dân trong mọi trường hợp đều không thể tiếp cận. Thay vào đó, Luật xác định điều kiện để tiếp cận, trong đó đặt ra yêu cầu về sự đồng ý của chủ thể có liên quan hoặc thực hiện theo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đối với thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, khoản 2 Điều 16 quy định công dân được tiếp cận trong trường hợp chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý. Quy định này thể hiện rõ việc bảo vệ quyền của chủ sở hữu bí mật kinh doanh, đồng thời cho phép tiếp cận thông tin khi chủ sở hữu đồng ý.
Đối với tài liệu lưu trữ tại lưu trữ lịch sử, khoản 3 Điều 16 quy định việc tiếp cận có điều kiện được thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ.  Đây là quy định dẫn chiếu nhằm bảo đảm việc tiếp cận tài liệu lưu trữ được thực hiện thống nhất với pháp luật chuyên ngành về lưu trữ.
Trường hợp cung cấp thông tin vì lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng
Một nội dung đáng chú ý tại Điều 16 là quy định về trường hợp cung cấp thông tin không cần có sự đồng ý theo quy định thông thường.Theo khoản 4 Điều 16, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định việc cung cấp thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, dữ liệu cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh trong trường hợp cần thiết vì lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng, theo quy định của luật có liên quan.
Điểm đáng lưu ý là quy định này gắn việc cung cấp thông tin với ba yếu tố: chủ thể quyết định là người đứng đầu cơ quan, đơn vị; việc cung cấp phải cần thiết vì lợi ích công cộng hoặc sức khỏe của cộng đồng; và phải được thực hiện theo quy định của luật có liên quan. Đồng thời, trong trường hợp này, việc cung cấp thông tin được thực hiện mà không cần có sự đồng ý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 16.
Quy định trên tạo cơ sở pháp lý để xử lý những trường hợp thông tin thuộc phạm vi đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, dữ liệu cá nhân, bí mật gia đình hoặc bí mật kinh doanh nhưng việc cung cấp thông tin là cần thiết vì lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin gắn với việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
Qua các quy định tại Mục 1 Chương III có thể thấy Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 đã lựa chọn cách tiếp cận theo hướng xác định rõ phạm vi thông tin mà công dân được tiếp cận và các trường hợp ngoại lệ.
Theo Điều 14, công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan, đơn vị. Đây là quy định mang tính nguyên tắc, thể hiện việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân. Tuy nhiên, quyền này được thực hiện trong phạm vi pháp luật cho phép, với hai nhóm ngoại lệ được quy định cụ thể tại Điều 15 và Điều 16.
Đối với thông tin không được tiếp cận, Điều 15 quy định cụ thể 06 nhóm, bao gồm: thông tin thuộc bí mật nhà nước; thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và dữ liệu cá nhân; bí mật kinh doanh; thông tin có thể gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước và các lợi ích hợp pháp khác; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ và tài liệu phục vụ công việc nội bộ.  Đối với thông tin được tiếp cận có điều kiện, Điều 16 quy định điều kiện cụ thể đối với thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh và tài liệu lưu trữ tại lưu trữ lịch sử; đồng thời quy định trường hợp cung cấp thông tin cần thiết vì lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng.
Với việc quy định cụ thể phạm vi thông tin được tiếp cận, thông tin không được tiếp cận và thông tin được tiếp cận có điều kiện, Mục 1 Chương III Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 góp phần làm rõ giới hạn của quyền tiếp cận thông tin, bảo đảm quyền này được thực hiện thực chất nhưng không xâm phạm các lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026.
 

Tác giả bài viết: Ban biên tập

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn biết tới Cổng thông tin điện tử hỗ trợ pháp lý cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa qua đâu ?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây