Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân- Những nội dung cần biết theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2026
Ban biên tập
2026-08-19T07:25:03-04:00
2026-08-19T07:25:03-04:00
https://www.hotropldn.thainguyen.gov.vn/news/tieu-diem-phap-luat/bao-dam-quyen-tiep-can-thong-tin-cua-cong-dan-nhung-noi-dung-can-biet-theo-luat-tiep-can-thong-tin-nam-2026-2190.html
https://www.hotropldn.thainguyen.gov.vn/uploads/news/2026_08/202604231435068272_z7755336490814_6e9c77394e777867ad8306a1c1b05b32.jpg
Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Cổng thông tin điện tử hỗ trợ pháp lý cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa
https://www.hotropldn.thainguyen.gov.vn/uploads/botuphap.png
Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI, Kỳ họp thứ Nhất thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026. Một trong những nội dung quan trọng của Luật là quy định cụ thể phạm vi thông tin công dân được tiếp cận, những thông tin không được tiếp cận, thông tin được tiếp cận có điều kiện, hình thức yêu cầu, cung cấp thông tin và chi phí tiếp cận thông tin. Các quy định này góp phần xác định rõ quyền của công dân, đồng thời làm cơ sở để cơ quan, đơn vị thực hiện việc cung cấp thông tin đúng quy định pháp luật.
Công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan, đơn vị
Theo Điều 14 Luật Tiếp cận thông tin, công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan, đơn vị, trừ thông tin không được tiếp cận quy định tại Điều 15 của Luật; đối với thông tin quy định tại Điều 16 thì công dân được tiếp cận khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Như vậy, Luật xác định rõ nguyên tắc chung là công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, quyền tiếp cận thông tin được thực hiện trong khuôn khổ các quy định của pháp luật, trong đó có những loại thông tin pháp luật không cho phép tiếp cận và những loại thông tin chỉ được tiếp cận khi đáp ứng điều kiện nhất định.
Quy định này đồng thời tạo cơ sở để phân định rõ ba nhóm thông tin: thông tin công dân được tiếp cận; thông tin công dân không được tiếp cận; và thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện.
Việc xác định rõ các nhóm thông tin có ý nghĩa trong quá trình thực hiện quyền tiếp cận thông tin, bảo đảm quyền của công dân nhưng đồng thời tránh việc cung cấp những thông tin thuộc phạm vi pháp luật bảo vệ.
Sáu nhóm thông tin công dân không được tiếp cận
Điều 15 Luật Tiếp cận thông tin quy định cụ thể các trường hợp công dân không được tiếp cận.
Thứ nhất, thông tin thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Đối với thông tin thuộc bí mật nhà nước, khi thông tin được giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin. Như vậy, việc không tiếp cận đối với thông tin thuộc bí mật nhà nước gắn với tình trạng pháp lý của thông tin; khi được giải mật thì thông tin được tiếp cận theo quy định của Luật.
Thứ hai, thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và dữ liệu cá nhân. Đây là nhóm thông tin không được tiếp cận theo Điều 15, trừ trường hợp được tiếp cận theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật.
Thứ ba, bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp được tiếp cận theo quy định tại khoản 2 Điều 16.
Thứ tư, thông tin mà nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc người khác.
Đối với nhóm thông tin này, Luật quy định việc xác định thông tin được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Trường hợp pháp luật chưa quy định thì căn cứ vào điều kiện thực tế, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin.
Thứ năm, thông tin thuộc bí mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định của pháp luật.
Thứ sáu, thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan, đơn vị; tài liệu do cơ quan, đơn vị soạn thảo cho công việc nội bộ.
Một số thông tin được tiếp cận khi đáp ứng điều kiện
Bên cạnh nhóm thông tin không được tiếp cận, Điều 16 Luật Tiếp cận thông tin quy định một số loại thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện.
Đối với thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, công dân được tiếp cận khi được người có thông tin đồng ý. Đối với thông tin liên quan đến bí mật gia đình, việc tiếp cận được thực hiện khi các thành viên gia đình đồng ý. Riêng việc tiếp cận thông tin thuộc dữ liệu cá nhân được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Đối với thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, điều kiện để tiếp cận là chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý.
Đối với tài liệu lưu trữ tại lưu trữ lịch sử, việc tiếp cận có điều kiện được thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
Đặc biệt, Luật quy định trường hợp không cần sự đồng ý theo quy định thông thường. Theo đó, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định việc cung cấp thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, dữ liệu cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh trong trường hợp cần thiết vì lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng, theo quy định của luật có liên quan.
Quy định tại Điều 16 vì vậy xác định cụ thể điều kiện để tiếp cận từng loại thông tin, đồng thời quy định trường hợp cần thiết vì lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng mà người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định việc cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật có liên quan.
Công dân có thể yêu cầu cung cấp thông tin bằng nhiều hình thức
Để tạo thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Điều 24 quy định cụ thể các hình thức yêu cầu và cung cấp thông tin.
Theo đó, người yêu cầu có thể trực tiếp hoặc thông qua người đại diện yêu cầu cung cấp thông tin bằng một trong các hình thức:
- Tại cơ quan, đơn vị;
- Qua dịch vụ bưu chính;
- Qua mạng Internet, bao gồm qua thư điện tử, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng di động hoặc các nền tảng số khác do cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công bố.
Việc quy định nhiều hình thức yêu cầu cung cấp thông tin giúp công dân có thể lựa chọn phương thức phù hợp với điều kiện thực tế của mình.
Đối với trường hợp yêu cầu cung cấp thông tin tại trụ sở cơ quan, đơn vị, người yêu cầu được sử dụng điện thoại di động và các phương tiện kỹ thuật khác của cá nhân để sao, chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác.
Về phía cơ quan, đơn vị được yêu cầu, Luật quy định trách nhiệm cung cấp thông tin theo hình thức mà người yêu cầu đề nghị, nếu hình thức đó phù hợp với tính chất của thông tin được yêu cầu, điều kiện và khả năng của cơ quan, đơn vị, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đồng thời, Luật khuyến khích việc cung cấp thông tin qua mạng Internet theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 24.
Như vậy, bên cạnh việc ghi nhận các hình thức truyền thống như trực tiếp tại cơ quan, đơn vị hoặc qua dịch vụ bưu chính, Luật đã quy định cụ thể hình thức yêu cầu, cung cấp thông tin qua môi trường Internet.
Tiếp cận thông tin không phải trả phí, lệ phí, nhưng có thể phát sinh chi phí thực tế
Một nội dung đáng chú ý khác được quy định tại Điều 25 là chi phí tiếp cận thông tin. Theo khoản 1 Điều 25, công dân được cung cấp thông tin không phải trả phí, lệ phí, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác. Đây là quy định xác định nguyên tắc chung về chi phí khi công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 25 quy định người yêu cầu cung cấp thông tin có trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin.
Như vậy, cần phân biệt giữa phí, lệ phí để được cung cấp thông tin và chi phí thực tế phát sinh để in, sao, chụp, gửi thông tin. Theo quy định của Luật, về nguyên tắc công dân không phải trả phí, lệ phí để được cung cấp thông tin; trường hợp phát sinh việc in, sao, chụp hoặc gửi thông tin thì người yêu cầu có trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế cho các hoạt động này. Luật cũng quy định ngoại lệ về chi phí đối với trường hợp người yêu cầu cung cấp thông tin theo điểm a và điểm c khoản 1 Điều 23 thì không phải trả chi phí.
Theo Điều 23, điểm a khoản 1 là trường hợp thông tin phải được công khai nhưng đang trong thời hạn công khai mà chưa được công khai; điểm c là trường hợp thông tin đang được công khai nhưng vì lý do bất khả kháng người yêu cầu không thể tiếp cận được.
Chi tiết về chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin được giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đi đôi với việc tuân thủ các giới hạn của pháp luật
Theo đó, công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan, đơn vị là nguyên tắc chung. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này phải tuân thủ các giới hạn được pháp luật quy định. Những thông tin thuộc bí mật nhà nước, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh và một số nhóm thông tin khác được xác định cụ thể là không được tiếp cận; một số thông tin trong các lĩnh vực này được tiếp cận khi đáp ứng điều kiện theo quy định. Đồng thời, Luật tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin thông qua nhiều phương thức khác nhau, trong đó có hình thức qua môi trường Internet; quy định cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin theo hình thức mà người yêu cầu đề nghị nếu phù hợp; và xác định nguyên tắc công dân được cung cấp thông tin không phải trả phí, lệ phí, đồng thời chỉ phải thanh toán chi phí thực tế trong những trường hợp pháp luật quy định.
Các quy định này là cơ sở để công dân chủ động thực hiện quyền tiếp cận thông tin, đồng thời giúp cơ quan, đơn vị có căn cứ cụ thể trong việc xác định thông tin được cung cấp, thông tin không được cung cấp, điều kiện cung cấp, hình thức cung cấp và chi phí thực tế phát sinh trong quá trình cung cấp thông tin. Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026. Việc nắm rõ các quy định nêu trên sẽ góp phần bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân được thực hiện đúng pháp luật, đồng thời bảo đảm việc bảo vệ bí mật nhà nước, quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh và các lợi ích hợp pháp khác theo quy định.
Tác giả bài viết: Ban biên tập