Tăng cường cung cấp thông tin, tháo gỡ điểm nghẽn ngành công nghiệp

Thứ hai - 10/08/2026 22:08 73 0
    Tăng cường cung cấp thông tin, tháo gỡ điểm nghẽn ngành công nghiệp là chỉ đạo của Bộ Công Thương tại Văn bản số 6138/BCT-CN ngày 05/8/2026 về việc tháo gỡ điểm nghẽn đối với ngành công nghiệp trong  triển khai thực hiện Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 gắn với mục tiêu tăng trưởng “2 con số”.
     Nhằm đạt mục tiêu Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 12-14% trong năm 2026, Bộ Công Thương đề nghị các địa phương phối hợp cung cấp 03 nhóm thông tin sau: (1) Rà soát các chỉ tiêu được giao về công nghiệp, đánh giá khả năng hoàn thành mục tiêu; xác định và đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn đối với ngành Công nghiệp và các dự án công nghiệp trọng điểm; (2) Xác định các doanh nghiệp công nghiệp hạt nhân/có tiềm năng trở thành hạt nhân trên địa bàn dẫn dắt chuỗi cung ứng; (3) Tình hình thu hút nhà đầu tư chiến lược vào các khu, cụm công nghiệp, đặc biệt dự án công nghiệp chế biến sâu, công nghệ cao.
     Theo đó, kết quả chủ yếu được đề ra bao gồm tốc độ tăng trưởng GRDP ngành công nghiệp, tỷ trọng và mức đóng góp của công nghiệp vào tăng trưởng kinh tế địa phương; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP), giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghiệp và tình hình đơn hàng, tồn kho, lao động; tăng trưởng các ngành công nghiệp chủ lực; đánh giá thực chất giá trị gia tăng, trình độ chế biến, chế tạo, tỷ lệ công đoạn sản xuất được thực hiện tại địa phương và mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước.
      Về khả năng hoàn thành mục tiêu gồm dự báo khả năng hoàn thành chỉ tiêu công nghiệp năm 2026 và giai đoạn 2026–2030 theo kịch bản cơ sở, thuận lợi và khó khăn; các điều kiện quyết định: đơn hàng, thị trường, nguồn nguyên liệu, tiến độ dự án mới, hạ tầng khu/cụm công nghiệp, quỹ đất sạch, lao động kỹ thuật và khả năng tiếp cận vốn và nhận diện các rủi ro chính: biến động thị trường, thuế quan, tỷ giá và giá nguyên liệu; chi phí logistics; yêu cầu chuyển đổi xanh, giảm phát thải và tiêu chuẩn kỹ thuật.
Đặc biệt, Bộ Công Thương quan tâm gợi ý cung cấp thông tin về các khó khăn, vướng mắc và điểm nghẽn. Trong đó trọng tâm là điểm nghẽn chung của ngành công nghiệp (sự thiếu đồng bộ hoặc chậm điều chỉnh giữa quy hoạch tỉnh, quy hoạch khu/cụm công nghiệp và quy hoạch ngành quốc gia có liên quan; hạn chế về hạ tầng khu, cụm công nghiệp; quỹ đất công nghiệp, nhà xưởng, giao thông kết nối, cấp nước, xử lý chất thải và dịch vụ logistics phục vụ sản xuất; khó khăn về công nghệ, năng suất, tiêu chuẩn chất lượng, nguồn nhân lực kỹ thuật, khả năng tiếp cận vốn và tham gia chuỗi cung ứng; vướng mắc trong khai thác, cung ứng và chế biến nguyên liệu, khoáng sản phục vụ sản xuất công nghiệp; thiếu nguồn nguyên liệu ổn định cho chế biến sâu; các thủ tục ngoài lĩnh vực công nghiệp trực tiếp làm chậm dự án công nghiệp, cơ quan có thẩm quyền xử lý).
        Ngoài ra, nội dung cung cấp thông tin về doanh nghiệp công nghiệp hạt nhân, dự án động lực và chuỗi cung ứng cũng được kiến nghị phối hợp để xác định cụ thể về tiêu chí xác định doanh nghiệp hạt nhân hoặc tiềm năng hạt nhân, danh mục dự án công nghiệp động lực và thu hút đầu tư, giải pháp phát triển chuỗi cung ứng công nghiệp.
       Riêng về giải pháp phát triển chuỗi cung ứng công nghiệp, Bộ Công Thương đề cập 5 giải pháp cơ bản sau: Một là, xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp sản xuất và nhà cung cấp công nghiệp tại địa phương. Hai là, tổ chức kết nối giữa doanh nghiệp hạt nhân, doanh nghiệp FDI và nhà cung cấp trong nước; khuyến khích công bố nhu cầu mua sắm và tiêu chuẩn kỹ thuật. Ba là, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước cải tiến sản xuất, đổi mới công nghệ, thử nghiệm, đo kiểm và đạt các chứng nhận quốc tế. Bốn là, trong thu hút đầu tư, khuyến khích nhà đầu tư xây dựng kế hoạch phát triển nhà cung cấp trong nước, đào tạo nhân lực, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết với doanh nghiệp nội địa. Đối với các dự án FDI đề nghị hưởng ưu đãi hoặc hỗ trợ đầu tư, nghiên cứu xem xét mức độ cam kết của nhà đầu tư về lộ trình gia tăng giá trị tạo ra trong nước, phát triển nhà cung cấp, sử dụng nguyên liệu và dịch vụ trong nước phù hợp, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ, làm căn cứ đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và xác định mức hỗ trợ tương xứng, bảo đảm phù hợp với pháp luật về đầu tư và các cam kết quốc tế của Việt Nam. Năm là, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước đạt chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế (ISO, an toàn, môi trường, ESG, quản trị chuỗi).
      Có thể nói, việc thực hiện cung cấp thông tin, tháo gỡ điểm nghẽn ngành công nghiệp là một trong những hoạt động có hiệu ứng tốt để Việt Nam sớm đạt được mục tiêu “Xây dựng và hiện đại hóa nền công nghiệp quốc gia vững mạnh; tập trung nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số ngành công nghiệp nền tảng... công nghiệp phụ trợ gắn với tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu”. Với tinh thần đó, tỉnh Thái Nguyên cũng đã có những chỉ đạo kịp thời để công tác phối hợp đạt được hiệu quả cao nhất, góp phần vào hoàn thành mục tiêu chung của cả nước./.

Tác giả bài viết: Lê Thị Minh Hiếu

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn biết tới Cổng thông tin điện tử hỗ trợ pháp lý cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa qua đâu ?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây