Bảo đảm sở hữu trí tuệ - chìa khóa pháp lý cho phát triển kinh tế - xã hội
Lê Thị Minh Hiếu
2026-08-12T04:49:09-04:00
2026-08-12T04:49:09-04:00
https://www.hotropldn.thainguyen.gov.vn/news/chu-truong-chinh-sach/bao-dam-so-huu-tri-tue-chia-khoa-phap-ly-cho-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-2163.html
https://www.hotropldn.thainguyen.gov.vn/uploads/news/2026_08/gemini_generated_image_p2cl2ip2cl2ip2cl.png
Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Cổng thông tin điện tử hỗ trợ pháp lý cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa
https://www.hotropldn.thainguyen.gov.vn/uploads/botuphap.png
Thực hiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 17/6/2026 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, với mục tiêu quán triệt sâu sắc, đầy đủ và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả Kết luận số 51-KL/TW; tạo chuyển biến căn bản về nhận thức và hành động, chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, coi sở hữu trí tuệ là nguồn lực nội sinh, tài sản chiến lược và động lực trực tiếp thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và phát triển nhanh, bền vững, tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Kế hoạch số 347/KH-UBND ngày 06/8/2026. Kế hoạch nhằm cụ thể hóa kịp thời, đầy đủ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Trung ương thành các nhiệm vụ, giải pháp và lộ trình thực hiện thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện, tiềm năng, lợi thế và định hướng phát triển của tỉnh; gắn phát triển sở hữu trí tuệ với các ngành, lĩnh vực ưu tiên, sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc thù, sản phẩm OCOP, giá trị văn hóa, tri thức truyền thống và các kết quả khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo có tiềm năng thương mại hóa.
Theo nội dung chỉ đạo, có 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần được triển khai thực hiện là:
1. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo; nâng cao nhận thức và hình thành văn hóa sở hữu trí tuệ
2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
3. Thúc đẩy sáng tạo, tạo lập và xác lập quyền sở hữu trí tuệ
4. Nâng cao năng lực quản trị, khai thác, thương mại hóa và phát triển thị trường tài sản trí tuệ
5. Phát triển tài sản trí tuệ gắn với ngành, lĩnh vực ưu tiên, sản phẩm chủ lực và thị trường quốc tế
6. Đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị tài sản trí tuệ dựa trên dữ liệu
7. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ
8. Phát triển nguồn nhân lực và giáo dục sở hữu trí tuệ
9. Tăng cường hợp tác, hội nhập quốc tế và bảo đảm an ninh tài sản trí tuệ.
Có thể nói, 9 nhóm nhiệm vụ nói trên là những giải pháp cốt yếu, trọng tâm để đạt tới mục tiêu chung, sớm hình thành hệ sinh thái sở hữu trí tuệ của tỉnh đồng bộ, hiện đại, số hóa, liên thông và hội nhập quốc tế, bao quát đầy đủ quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả, quyền liên quan và quyền đối với giống cây trồng; bảo đảm tài sản trí tuệ được nhận diện, tạo lập, xác lập quyền, quản trị, khai thác, thương mại hóa, bảo vệ và thực thi quyền hiệu quả. Cùng với đó, tạo động lực để đưa sở hữu trí tuệ thực sự trở thành tài sản chiến lược, nguồn lực trực tiếp cho tăng trưởng và công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm và nền kinh tế tỉnh; thúc đẩy phát triển thị trường tài sản trí tuệ; xây dựng văn hóa tôn trọng sáng tạo, khai thác và sử dụng tài sản trí tuệ hợp pháp; tạo lập môi trường đổi mới sáng tạo, đầu tư, sản xuất, kinh doanh minh bạch, lành mạnh, cạnh tranh và bền vững.
Hướng tới các mục tiêu cụ thể đến năm 2030, phấn đấu đưa tỉnh Thái Nguyên thuộc nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về năng lực sáng tạo, bảo hộ, quản trị, khai thác và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Gắn liền với đó, phải hướng tới mục tiêu thay đổi nhận thức, giúp cho quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh gia tăng cả về số lượng, chất lượng và khả năng ứng dụng, góp phần cải thiện rõ rệt các chỉ số về sở hữu trí tuệ trong Bộ chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII). Giai đoạn 2026 - 2030, số lượng đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tăng tối thiểu 20%; số lượng đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng tăng tối thiểu 10% so với giai đoạn 2021 - 2025.
Đặc biệt, cần nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ; gia tăng đáng kể số lượng ngành, lĩnh vực, sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng sở hữu trí tuệ cao. Theo đó, tỷ lệ sáng chế, giải pháp hữu ích được thương mại hóa đạt tối thiểu 10% số sáng chế, giải pháp hữu ích được cấp văn bằng bảo hộ; có ít nhất 01 giống cây trồng được khai thác quyền ở nước ngoài; số lượng tổ chức, doanh nghiệp sử dụng hiệu quả công cụ sở hữu trí tuệ trong sản xuất, kinh doanh tăng rõ rệt; phát triển một số ngành công nghiệp có mức độ sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cao, phù hợp với tiềm năng, lợi thế của tỉnh; gia tăng đáng kể đóng góp của các ngành này vào tăng trưởng GRDP của tỉnh; chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, nguồn gen, tri thức truyền thống, bí quyết kỹ thuật, văn hóa dân gian và tài sản sáng tạo của cộng đồng được bảo hộ, quản trị và khai thác hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh; phát triển các ngành công nghiệp văn hóa dựa trên quyền tác giả, quyền liên quan; tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm sáng tạo đa dạng, chất lượng cao; phấn đấu đến năm 2030, doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa này đóng góp tối thiểu 7% GRDP của tỉnh; thúc đẩy các giao dịch quyền sở hữu trí tuệ nhằm tăng cường hiệu quả khai thác, thương mại hóa các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; thí điểm hỗ trợ định giá ít nhất 03 quyền sở hữu trí tuệ có tiềm năng thương mại hóa của tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh.
Tỉnh Thái Nguyên cũng chỉ đạo cụ thể, cần nâng cao rõ rệt hiệu lực, hiệu quả bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, giảm đáng kể tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trên môi trường số.
Theo đánh giá, Thái Nguyên có tiềm năng, lợi thế lớn về công nghiệp công nghệ cao, nghiên cứu khoa học, giáo dục đại học, nông nghiệp, sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc trưng, tri thức truyền thống, bí quyết kỹ thuật, giá trị văn hóa và các kết quả sáng tạo có khả năng hình thành, bảo hộ, quản trị, khai thác và thương mại hóa thành tài sản trí tuệ có giá trị. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, không gian phát triển, quy mô kinh tế, số lượng chủ thể sản xuất, kinh doanh và nguồn tài sản trí tuệ tiềm năng của tỉnh tiếp tục được mở rộng, đặt ra yêu cầu quản lý, điều phối và phát triển sở hữu trí tuệ ở tầm cao hơn, đồng bộ và toàn diện hơn. Trong điều kiện đó, hoạt động sở hữu trí tuệ của tỉnh vẫn còn một số hạn chế, điểm nghẽn nhất là trong tạo lập và xác lập quyền chưa đồng đều giữa các đối tượng; năng lực quản trị, định giá, giao dịch, chuyển giao và thương mại hóa tài sản trí tuệ còn hạn chế; thị trường quyền sở hữu trí tuệ chậm phát triển; dữ liệu còn phân tán, thiếu liên thông; hiệu quả bảo vệ và thực thi quyền, nhất là trên môi trường số, chưa đáp ứng yêu cầu; vai trò của sở hữu trí tuệ trong phát triển doanh nghiệp, chuỗi giá trị, các ngành công nghiệp có mức độ sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cao và công nghiệp văn hóa chưa được phát huy tương xứng với tiềm năng.
Kết luận số 51-KL/TW xác định sở hữu trí tuệ là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới, là yếu tố cốt lõi nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh, bảo đảm an ninh và thúc đẩy hội nhập quốc tế; đồng thời yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang kiến tạo hệ sinh thái sở hữu trí tuệ, phát triển thị trường quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, nâng cao hiệu lực bảo vệ và thực thi quyền, xây dựng văn hóa tôn trọng sáng tạo. Do đó, Kế hoạch số 347/KH-UBND không chỉ cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030 và các chương trình, đề án, kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số của tỉnh mà còn giúp góp phần đưa sở hữu trí tuệ trở thành tài sản chiến lược, nguồn lực nội sinh và động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của tỉnh./.
Tác giả bài viết: Lê Thị Minh Hiếu