Luật Tiếp cận thông tin năm số 01/2026/QH16: Những điểm nổi bật góp phần bảo đảm quyền được biết của công dân
Ban biên tập
2026-08-19T07:23:14-04:00
2026-08-19T07:23:14-04:00
https://www.hotropldn.thainguyen.gov.vn/news/phap-luat-va-doanh-nghiep/luat-tiep-can-thong-tin-nam-so-01-2026-qh16-nhung-diem-noi-bat-gop-phan-bao-dam-quyen-duoc-biet-cua-cong-dan-2189.html
https://www.hotropldn.thainguyen.gov.vn/uploads/news/2026_08/202604231435068272_z7755336490814_6e9c77394e777867ad8306a1c1b05b32.jpg
Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Cổng thông tin điện tử hỗ trợ pháp lý cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa
https://www.hotropldn.thainguyen.gov.vn/uploads/botuphap.png
Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI, Kỳ họp thứ Nhất thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026. Với nhiều quy định được thiết kế theo hướng cụ thể, rõ trách nhiệm và tăng khả năng tiếp cận thông tin trên môi trường số, Luật tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, đồng thời nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong cung cấp thông tin.
Một trong những điểm nổi bật của Luật là xác lập rõ nguyên tắc công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan, đơn vị, đồng thời phân định cụ thể những thông tin không được tiếp cận và những thông tin được tiếp cận có điều kiện. Theo đó, công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan, đơn vị, trừ thông tin thuộc diện không được tiếp cận; đối với một số thông tin như đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh thì việc tiếp cận phải đáp ứng điều kiện do Luật quy định. Điểm đáng chú ý ở đây là Luật không chỉ ghi nhận quyền tiếp cận thông tin theo nguyên tắc chung mà còn xác định khá rõ “ranh giới” của quyền này. Sáu nhóm thông tin không được tiếp cận được quy định tại Điều 15, trong đó có thông tin thuộc bí mật nhà nước; thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và dữ liệu cá nhân; bí mật kinh doanh; thông tin mà nếu cung cấp có thể gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ và tài liệu phục vụ công việc nội bộ. Đồng thời, Điều 16 quy định cơ chế tiếp cận có điều kiện đối với một số loại thông tin.
Điểm nổi bật thứ hai là mở rộng và cụ thể hóa trách nhiệm chủ động công khai thông tin của cơ quan, đơn vị. Luật không chỉ đặt quyền tiếp cận thông tin ở chỗ “công dân yêu cầu thì cơ quan cung cấp”, mà quy định một danh mục lớn thông tin mà cơ quan, đơn vị phải chủ động công khai. Trong đó có các thông tin về chiến lược, chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính có giá trị áp dụng chung; thủ tục hành chính; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức; ngân sách, tài sản công, đầu tư công; quy hoạch, đất đai; y tế, giáo dục, môi trường và nhiều lĩnh vực gắn trực tiếp với đời sống của người dân.
Đặc biệt, Luật còn cho phép cơ quan, đơn vị chủ động công khai những thông tin khác do mình tạo ra hoặc nắm giữ để bảo vệ lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng, căn cứ điều kiện và khả năng thực tế. Quy định này tạo dư địa để cơ quan nhà nước chủ động cung cấp thông tin cần thiết cho xã hội, thay vì chỉ giới hạn trong danh mục thông tin bắt buộc phải công khai.
Một điểm nổi bật khác là Luật đặt trọng tâm vào công khai thông tin trên môi trường điện tử. Cơ quan, đơn vị phải công khai trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử các thông tin thuộc danh mục phải công khai và các thông tin khác theo quy định của pháp luật. Tùy điều kiện thực tế, thông tin còn có thể được công khai trên cổng dữ liệu, các kênh nội dung, trang cộng đồng chính thức; trường hợp chưa có các nền tảng này thì phải sử dụng hình thức thích hợp khác. Quy định này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Quyền tiếp cận thông tin được gắn với khả năng tiếp cận thông tin trên môi trường số, giúp người dân có thể chủ động tra cứu, tìm kiếm và sử dụng thông tin mà không nhất thiết phải trực tiếp đến trụ sở cơ quan nhà nước.
Không chỉ quy định về công khai, Luật còn tạo cơ chế để công dân chủ động yêu cầu cung cấp thông tin. Theo Điều 23, công dân có thể yêu cầu cung cấp những thông tin phải công khai nhưng chưa được công khai trong thời hạn; đã hết thời hạn công khai; hoặc đang được công khai nhưng vì lý do bất khả kháng người yêu cầu không thể tiếp cận. Công dân cũng có thể yêu cầu cung cấp một số thông tin liên quan đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của chính mình và những thông tin khác theo quy định của Luật.
Đáng chú ý, phương thức yêu cầu và cung cấp thông tin được mở rộng theo hướng thuận tiện, linh hoạt hơn. Người yêu cầu có thể trực tiếp hoặc thông qua người đại diện yêu cầu cung cấp thông tin tại cơ quan, đơn vị, qua dịch vụ bưu chính hoặc qua mạng Internet, bao gồm thư điện tử, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng di động hoặc các nền tảng số khác do cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công bố. Luật cũng khuyến khích việc cung cấp thông tin qua mạng Internet. Đây là bước phát triển đáng chú ý bởi quyền tiếp cận thông tin được thiết kế gắn với sự phát triển của công nghệ và phương thức giao tiếp số. Công dân không chỉ có quyền yêu cầu thông tin mà còn có nhiều lựa chọn hơn về cách thức thực hiện quyền đó.
Một điểm đáng chú ý khác là nguyên tắc công dân không phải trả phí, lệ phí để được cung cấp thông tin. Theo Điều 25, công dân được cung cấp thông tin không phải trả phí, lệ phí, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác. Người yêu cầu chỉ có trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin theo quy định; một số trường hợp đặc biệt còn không phải trả các chi phí này.
Luật đồng thời quy định rõ thời hạn giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin, qua đó hạn chế tình trạng yêu cầu của công dân bị kéo dài không xác định. Theo quy định tại Điều 26, chậm nhất là 12 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu cung cấp thông tin hợp lệ, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin; trường hợp cần thêm thời gian để xem xét, tìm kiếm, phân tách, tập hợp, sao chép hoặc giải quyết yêu cầu thì có thể gia hạn nhưng thời gian gia hạn tối đa không quá 12 ngày và phải thông báo bằng văn bản.
Một điểm mới có ý nghĩa thiết thực là Luật không chỉ quy định trách nhiệm cung cấp thông tin mà còn quy định trách nhiệm bảo đảm thông tin được cung cấp chính xác, đầy đủ. Trường hợp phát hiện thông tin do mình cung cấp không chính xác, không đầy đủ, cơ quan, đơn vị phải kịp thời đính chính, cung cấp lại hoặc bổ sung thông tin còn thiếu. Theo Điều 28, thời hạn thực hiện trách nhiệm này là chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ngày phát hiện.
Đồng thời, nếu người yêu cầu cho rằng thông tin được cung cấp không chính xác hoặc không đầy đủ, người đó có quyền yêu cầu cơ quan, đơn vị cung cấp lại hoặc bổ sung thông tin. Chậm nhất 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan, đơn vị phải xác định tính chính xác, đầy đủ của thông tin và trả lời người yêu cầu; nếu thông tin thực sự không chính xác hoặc không đầy đủ thì phải cung cấp lại hoặc bổ sung. Quy định này cho thấy trách nhiệm của cơ quan, đơn vị không kết thúc tại thời điểm thông tin được cung cấp, mà còn tiếp tục gắn với yêu cầu bảo đảm tính chính xác và đầy đủ của thông tin.
Bên cạnh việc mở rộng quyền tiếp cận, Luật cũng quy định rõ những trường hợp được từ chối cung cấp thông tin. Việc từ chối được thực hiện đối với thông tin không được tiếp cận, thông tin không đáp ứng điều kiện tiếp cận hoặc một số trường hợp khác như thông tin không thuộc trách nhiệm cung cấp, thông tin đã được cung cấp hai lần cho cùng người yêu cầu mà không có lý do chính đáng, yêu cầu vượt quá khả năng đáp ứng hoặc làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị, hoặc người yêu cầu không thanh toán chi phí thực tế theo quy định. Việc quy định cụ thể cả quyền được cung cấp và trường hợp được từ chối góp phần tạo ra cơ chế cân bằng: một mặt bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, mặt khác bảo vệ những thông tin cần được giữ kín và bảo đảm hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị.
Một điểm đáng chú ý khác của Luật là tăng cường trách nhiệm công khai và đính chính thông tin. Trường hợp thông tin đã được công khai nhưng không chính xác, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm kịp thời đính chính và công khai thông tin đã được đính chính; thông tin được công khai bằng hình thức nào thì phải được đính chính bằng hình thức đó. Như vậy, Luật không chỉ hướng đến việc “có thông tin để công khai”, mà còn đặt ra yêu cầu về tính chính xác, đầy đủ và khả năng tiếp cận thực tế của thông tin.
Có thể thấy, những điểm nổi bật của Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 tập trung ở một số định hướng quan trọng: xác định rõ phạm vi quyền tiếp cận thông tin; mở rộng trách nhiệm chủ động công khai của cơ quan, đơn vị; tăng cường công khai trên môi trường số; tạo thuận lợi cho công dân yêu cầu cung cấp thông tin; quy định cụ thể thời hạn giải quyết; xác định rõ các trường hợp từ chối; đồng thời thiết lập trách nhiệm đính chính, cung cấp lại hoặc bổ sung khi thông tin không chính xác, không đầy đủ. Những quy định này thể hiện sự chuyển biến từ cách tiếp cận “công dân yêu cầu – cơ quan cung cấp” sang cơ chế kết hợp giữa chủ động công khai thông tin và cung cấp thông tin theo yêu cầu, trong đó trách nhiệm của cơ quan, đơn vị được xác định rõ hơn và quyền của công dân được bảo đảm bằng những phương thức cụ thể hơn.
Việc thực hiện hiệu quả các quy định của Luật sẽ góp phần để người dân dễ biết hơn, dễ tiếp cận hơn và thuận lợi hơn trong việc sử dụng thông tin chính thức của cơ quan nhà nước; đồng thời thúc đẩy công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm của cơ quan, đơn vị và chất lượng phục vụ Nhân dân, doanh nghiệp.
Tác giả bài viết: Ban biên tập